Phương pháp trữ lạnh trong IVF

Trong một chu kỳ điều trị IVF, ngoài những phương pháp hỗ trợ phổ biến như tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), kích trứng…thì trữ lạnh cũng là một trong những phương pháp được sử dụng thường quy. Sự ra đời của phương pháp trữ lạnh đã góp phần cực kỳ quan trọng trong tối ưu hóa phác đồ kích thích buồng trứng, chuyển phôi, cũng như giải quyết bài toán phôi còn dư sau khi chuyển. Tuy nhiên, một câu hỏi thường gặp là hiệu quả của trữ phôi ra sao và có thể trữ phôi trong thời gian bao lâu?

Trữ lạnh tinh trùng, phôi là phương pháp đang dần hoàn thiện và được các chuyên gia đánh giá cao

Sự ra đời của phương pháp trữ lạnh

Mặc dù thường được nhầm lẫn là một kĩ thuật của thế kỷ 21, song trữ lạnh tinh trùng, nhưng thực tế từ năm 1776, một linh mục người Ý đã ghi nhận những ảnh hưởng của nhiệt độ đến tinh trùng. Đây là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho kỹ thuật trữ lạnh trong tương lai.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì kỹ thuật trữ lạnh ngày càng hoàn thiện và đã có những thành quả đáng ghi nhận. Năm 1953, đã ghi nhận trường hợp đầu tiên mang thai nhờ tinh trùng trữ lạnh. Song mãi đến tận 1984, mới ghi nhận trường hợp đầu tiên mang thai nhờ phôi trữ lạnh. Từ đó đến nay, kỹ thuật trữ lạnh ngày càng hoàn thiện và đã chắp cánh ước mơ cho hàng triệu gia đình hiếm muộn trên toàn thế giới.

Lợi ích của phương pháp trữ lạnh

Ngoài một số lợi ích bước đầu của trữ lạnh giao tử và phôi đã được nêu ở phần đầu, ngày nay trữ lạnh càng có tầm quan trọng hơn.

Trữ lạnh giao tử (trứng/tinh trùng):

– Phục vụ mục tiêu nghiên cứu.

– Thành lập ngân hàng giao tử (ngân hàng trứng/tinh trùng).

– Bảo tồn khả năng sinh sản (trước khi điều trị bệnh lý ác tính hoặc để sử dụng cho tương lai).

– Dùng trong trường hợp phẫu thuật tinh trùng, giúp hạn chế số lần phẫu thuật cho bệnh nhân.

– Gia tăng tính an toàn và thuận tiện trong kĩ thuật xin giao tử (trứng/phôi).

Trữ lạnh phôi:

Trữ lạnh phôi dư chưa dùng đến trong chu kỳ IVF.

– Trữ lạnh phôi trong trường hợp bệnh nhân chỉ thích hợp chuyển phôi trữ, có thể do các yếu tố lâm sàng: tâm lý chưa sẵn sàng, sức khỏe chưa đảm bảo cho việc chuyển phôi, hoặc do yếu tố nội mạc tử cung chưa thích hợp.

– Một số nghiên cứu cho rằng việc chuyển phôi trữ cho hiệu quả cao hơn so với chuyển phôi tươi.

– Giảm tỉ lệ đa thai do có thể tối ưu hóa các yếu tố lâm sàng, hạn chế số phôi chuyển hoặc theo xu hướng chuyển đơn phôi.

– Hạn chế nguy cơ quá kích buồng trứng.

Các phương pháp trữ lạnh đang được sử dụng

Hạ nhiệt độ chậm, một trong hai phương pháp đang được áp dụng trong IVF

Hiện nay, có hai phương pháp trữ lạnh đang được sử dụng là hạ nhiệt độ chậm và thủy tinh hóa:

Hạ nhiệt độ chậm: là phương pháp hạ nhiệt với tốc độ chậm (1-3oC/phút) theo chu trình hạ nhiệt được cài đặt sẵn, đưa mẫu cần đông lạnh từ nhiệt độ sinh lý xuống nhiệt độ rất thấp (thường là -80oC) trước khi bảo quản trong nitơ lỏng.

Thủy tinh hóa: là phương pháp trữ lạnh không cân bằng, đột ngột đưa mẫu xuống nhiệt độ âm sâu. Nguyên lý của phương pháp này là tăng tốc độ làm lạnh ở mức tối đa, vượt qua giai đoạn tạo thành tinh thể đá, nhằm mục đích ngăn chặn sự hình thành tinh thể đá ở trong và ngoài mẫu trữ lạnh, hạn chế tối đa tổn thương cho mẫu.

Gần đây, phương pháp trữ lạnh bằng thủy tinh hóa đang chứng minh được hiệu quả tối ưu hơn về tỉ lệ sống cũng như một số kết quả lâm sàng khác. Nếu như trước đây, tỉ lệ phôi sống của phương pháp hạ nhiệt độ chậm chỉ đạt 70% (đối với hợp tử), 85% đối với phôi ngày 3 và khoảng 88% đối với phôi blastocytes (túi phôi), thì với thủy tinh hóa, tỉ lệ phôi sống của một số hãng môi trường được báo cáo lên đến 95,9%  (Liebermann& Tucker 2006), thậm chí là tỉ lệ sống đạt 100% trong một số báo cáo (Stehlik et al.2005).

Mặt khác, với những ưu điểm vượt trội như hiệu quả, tính tiện lợi, thời gian thao tác nhanh chóng, phương pháp này đang được áp dụng trên hầu hết các trung tâm IVF trên thế giới.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của trữ lạnh phôi

Như đã nhắc ở trên, quá trình trữ lạnh phôi là quá trình đưa phôi xuống nhiệt độ âm sâu (-196oC) đồng thời sử dụng một số chất bảo quản. Đây rõ ràng là điều kiện bất lợi cho giao tử và phôi, nên sự ảnh hưởng đến chất lượng giao tử và phôi là điều có thể xảy ra.

Ngoài ra, hiệu quả của trữ lạnh giao tử và phôi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác:

– Chất lượng phôi trữ ban đầu.

– Kinh nghiệm của kỹ thuật viên và chuyên viên phôi học.

– Trang thiết bị phục vụ cho quá trình trữ lạnh.

– Điều kiện phòng bảo quản phôi đông lạnh.

– Vì những yếu tố như được nêu ở trên, bạn nên lựa chọn những trung tâm uy tín để tiến hành những kỹ thuật trên.

Có thể trữ lạnh giao tử và phôi trong bao lâu

Hiện chưa có một báo cáo nào có thể khẳng định về sự ảnh hưởng của thời gian lưu trữ tới chất lượng phôi cũng như các kết quả lâm sàng khác. Tuy nhiên, có nhiều lo ngại về các ảnh hưởng tiêu cực của chất bảo quản đông lạnh cũng như các gốc oxy hóa tự do trong môi trường bảo quản đến phôi.

Một ví dụ là cô bé Emma được sinh ra từ phôi đông lạnh sau 24 năm, hay những số liệu khả quan về các kết quả về tỉ lệ sống và lâm sàng khi phôi được lưu trữ từ 12-17,1 năm ( Yuan Y và cộng sự, 2019) đã cho thấy một cái nhìn tích cực về việc lưu trữ phôi dài hạn.

Để đưa ra một con số chính xác cho thời hạn lưu trữ phôi là một điều vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, càng kéo dài thời gian lưu trữ phôi sẽ đồng nghĩa với việc tuổi người mẹ ngày càng tăng (trong trường hợp sử dụng phôi tự thân) mà đây chính là một trong những yếu tố quyết định đến tỉ lệ mang thai.

Trong y học nói chung cũng như IVF nói riêng có một câu nói rất phổ biến: “No one-size-fits-all solution”, có thể hiểu là không một quy trình nào là phù hợp với tất cả mọi người. Do đó, việc lựa chọn phương pháp nào, cần có sự tham khảo và tư vấn của bác sĩ có chuyên môn, nhằm mục đích mang lại hiệu quả tối đa cho người bệnh.

Bác sĩ Lê Duy Thảo, Trung tâm IVF Hồng Ngọc